Giới thiệu chung về nhà trường .

Tháng 9/1966, Trường Phổ thông cấp 3 Nho Quan B được thành lập trên đất làng Hòn (xã Lạng Phong) và lễ khai giảng đầu tiên năm học 1966-1967 được long trọng tổ chức ở làng Đá Trung. Trường có 5 lớp là trường cấp 3 Hoàn chỉnh có đủ 3 khối 8, 9, 10 (nay là 10, 11, 12). Giáo viên của trường từ trường cấp 3 Nho Quan A, Gia Viễn A, Kim Sơn A, cấp 2 Nho Quan chuyển đến và sinh viên mới ra trường. Tất cả là 13 thầy cô và 3 cán bộ công nhân viên. Đó là các thầy: Nguyễn Hữu Khuê, Nguyễn Duy Bổng (Văn), Nguyễn Đắc Lực, Đinh Công Hoà (Sử), Lương Thị Phúc (Địa), Bùi Thị Tửu (Trung văn), Nguyễn Chí Trung, Quỳnh (Toán), Nguyễn Văn Khải, Trương Đỗ Thuật (Lý), Lê Quang Hưng (Hoá), Đạt (Sinh), Phạm Xuân Tắc (Thể dục),. Riêng môn chính trị, hai thầy Lực và Tắc kiêm nhiệm. Cán bộ công nhân viên có: Mai Hồng (Văn phòng), Nguyễn Văn Cải (Lao công), Nguyễn Thị Tâm An (Cấp dưỡng). Còn học sinh, trường tổ chức thi tuyển vào 3 lớp 8 được 150 em và một lớp 9, một lớp 10 là học sinh ở trường Nho Quan A, Gia Viễn A, chuyển về được gần 70 em.

Các lớp học phòng Hội đồng, bếp ăn tập thể… đều dựa vào nhà dân chỉ có một lớp 8C được xây dựng bằng gianh tre ở sát làng. Những năm học sau thêm lớp, trường xây dựng thêm ở trại Hòn, Tam Đồng. Ba năm đầu 1966 – 1969, Trường học trọn vẹn ở làng Hòn. Năm 1969 – 1970, 1970 – 1971, sau khi bị thua đau, đế quốc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc, trường chuyển về thị trấn Nho Quan, địa điểm chính thức ở trường cấp 2 Nho Quan cũ nay là trường Dân tộc nội trú. Lúc này trường đã có thầy Trần Lê Chi, Hiệu phó chuyển về và sau khi thầy Chi đi, thầy Trần Đạt Phác về thay. Như thế giám hiệu đã có 2. Năm học 1971 – 1972, trường lại sơ tán lên An Thạch (xã Văn Phong) rồi về vườn Dìn, Thủ Mông (xã Đồng Phong). Khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần 2, năm 1972, trường lại chuyển về làng Hòn cho đến khi Mỹ cút khỏi miền Nam. Ở làng Hòn cũng như các nơi sơ tán, thầy trò cùng phụ huynh đã ngày đêm đào hào, đào hố, đắp hầm để trú ẩn tránh máy bay địch. Học sinh đi, về học thời chiến đều có mũ rơm, một số có cành lá nguỵ trang. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, có những buổi, những tiết học thầy trò phải ra hầm hào trú ẩn 2, 3, 4 lần mỗi khi có tiếng kẻng báo động phòng không của địa phương. Đến khi kẻng báo yên, thày trò lại trở lại lớp học bình thường. Mặc dầu thế, phong trào thi đua dạy tốt vẫn được duy trì, đẩy mạnh và thày trò đã đạt được một số thành tích đáng khích lệ. Có 4 thày: Nguyễn Hữu Khuê, Lương Thị Phúc, Đinh Công Hoà, Thái Doãn Thẩm và 8 trò được kết nạp vào Đảng quang vinh: Nguyễn Văn Su, Vũ Văn Chiểu, Hà Thừa Nghiệp, Bùi Xuân Nhật, Đinh Văn Phúc, Đỗ Thị Ngát, Hoàng Thị Hoà, Hoàng Thị Thông; có hàng trăm học sinh được kết nạp Đoàn, nhiều học sinh theo tiếng gọi của Tổ Quốc đã lên đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước và một số đã anh dũng hy sinh như Bùi Văn Minh, Hoàng Văn Đạm, Lê Xuân Tùng, Vũ Văn Ba…

Tỷ lệ học sinh lên lớp khoảng 90%, tốt nghiệp phổ thông từ 80% trở lên, vào Cao Đẳng, Đại học từ 28-40%.

Trong phòng trào thi đua đã xuất hiện nhiều giáo viên, học sinh dạy tốt học tốt, dạy giỏi, học giỏi.

Về thầy có: Nguyễn Hữu Khuê, Nguyễn Duy Bổng, Hà Thừa Huynh, Trần Đạt Phác, Đinh Công Hoà, Nguyễn Chí Trung, Thái Doãn Thẩm, Phạm Kim Thiện, Đào Trung Hiếu, Nguyễn Văn Phiến, Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Sơn, Lê Quan Hưng, Võ Chi Mai, Phạm Xuân Tắc. Riêng thầy Nguyễn Đắc Lực, Hiệu trưởng sau đợt theo giảng ở trường, ở cụm trường, cùng với kinh nghiệm hồ sơ giảng dạy… đã được hội nghị giáo viên dạy giỏi lần thứ nhất của Tỉnh (1969 – 1970) công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh.

Về trò có: Quách Minh Châu, Hà Thừa Nghiệp, Dương Văn Lịch, Vũ Văn Chiểu, Đinh Văn Khoan, Nguyễn Văn Su, Trần Lâm, Nguyễn Văn Sơn, Đinh Khoát Đạt, Đặng Hữu Vân, Nguyễn Đình Hạnh, Nguyễn Mạnh Lâm, Nguyễn Thị Thanh Tùng, Đỗ Thị Ngát, Đinh Xuân Lưu, Vũ Thanh Tùng, Bùi Quang Luân, Trần Trọng Giá, Nguyễn Thế Giao, Ngô Thị Thực, Lã Ngọc Tỉnh, Lê Anh Khái, Nguyễn Kiều Minh, Chu Thanh Hưởng, Nguyễn Thanh Đại, Bùi Trọng Vân, Lã Tân Thanh… Tiêu biểu có Bùi Thị Loan, Đinh Văn Phúc, Nguyễn Mạnh Lễ, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Bùi Ngọc Quang, Nguyễn Quân là học sinh giỏi của tỉnh.

Những năm này đã có một số học sinh đi học Đại học ở nước ngoài do trường giới thiệu và Huyện, tỉnh xét duyệt không phải thi tuyển như: Nguyễn Văn Su, Vũ Văn Chiểu, Đinh Văn Khoan, Nguyễn Văn Sơn, Quách Minh Chân, Bùi Thị Loan, Hà Thừa Nghiệp, Đinh Văn Phúc, Bùi Ngọc Quang. Đến năm học 1969-1970 Bộ giáo dục bắt đầu tổ chức thi đại học ở tỉnh. Riêng đại học nước ngoài, thi tập trung ở Hà Nội với 3 môn Văn, Toán, Lý hoặc Hoá. Trường cử 6 học sinh thì 5 học sinh đã trúng tuyển là: Đinh Xuân Lưu, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Bùi Quang Luân, Nguyễn Thế Giao, Nguyễn Mạnh Lễ. Còn những năm sau thi ở tỉnh chọn lọc học sinh điểm cao đi học nước ngoài như: Chu Thanh Hưởng, Bùi Trọng Vân, Nguyễn Thanh Đại, Bùi Thị Tám.

Những học sinh ra trường gần 4 thập kỷ qua, nay đã trưởng thành: số đông về tham gia xây dựng quê hương, trong đó có nhiều em giữ cương vị chủ chốt của xã hội, rồi hàng chục, hàng trăm cán bộ Đảng, Đoàn thể, lực lượng vũ trang, là bác sỹ, dược sỹ, kỹ sư, cán bộ giảng dạy Đại học, cán bộ khoa học kỹ thuật, là doanh nhân, là giáo viên các cấp… Chính ngay ở Nho Quan đã có hàng chục giáo viên cấp 3 như Trần Lâm, hiệu trưởng trường Dân tộc Nội trú, Nguyễn Vũ Hoà -hiệu phó cấp 3 Nho Quan B, Bùi Thị Chinh, Trần Thị Nga, Nguyễn Đức Chỉ, Bùi Tùng Mậu, Nguyễn Chi Cương, Quách Văn Quang, Lê Thị Hương, Vũ Thị Toàn, Đỗ Thị Lan, Nguyễn Thị Dung, Bùi Thị Thuỳ, Nguyễn Mạnh Lâm (phòng giáo dục).

Trong số học sinh thành đạt tiêu biểu là: Bùi Văn Thắng – Chủ tịch uỷ ban nhân dân Ninh Bình; Nguyễn Quang Văn – Chủ tịch uỷ ban nhân dân huyện Nho Quan; Lê Văn Cương – Phó Bí thư huyện uỷ huyện Nho Quan; Đinh Xuân Lưu – Đại sứ Ba Lan; Bùi Trọng Vân – Phó Đại sứ Trung Quốc; Tiến sĩ Đinh Khoát Đạt – P.Vụ trưởng Ban Tài chính-Quản trị Trung ương Đảng; Nguyễn Quân – Tiến sĩ; Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ, nguyên hiệu phó trường Đại học Bách khoa Hà Nội; Bùi Văn Hải – chuyên viên Văn phòng Thủ tướng Chính phủ; Đặng Hữu Vân – nguyên Hiệu trưởng trường cấp 3 Nho Quan B, Phó giám đốc Sở, Hiệu trưởng Cao Đẳng sư phạm, nay trở lại Phó Giám đốc Sở Giáo dục Ninh Bình; Nguyễn Thị Thanh Tâm – bác sỹ chuyên khoa 2, bác sỹ cao cấp, thày thuốc ưu tú bệnh viện E Trung ương; Đỗ Thị Ngát – Nhà giáo ưu tú nguyên Phó phòng giáo dục Nho Quan; cấp Đại tá quân đội có Trần Trọng Giá, Phạm Khắc Ninh, Nguyễn Xuân Trường…

Chính thế hệ thày trò những năm đầu này, trong khói lửa chiến tranh đã “tiếng hát át tiếng bom” đưa trường Nho Quan B liên tục là trường tiên tiến.

Kỷ niệm 40 năm thành lập trường là dịp hội tụ các thế hệ thầy trò nhất là các thế hệ đầu ôn lại những kỷ niệm đẹp đẽ xưa, đã xây dựng nền móng vững chắc để các thế hệ sau tiếp tục đưa Trường tiến lên đạt được những thành tích cao hơn, rõ nhất là đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba, hạng Nhì.

Nho Quan với gần nửa thế kỷ sống, lớn lên, học tập và trưởng thành đã đọng lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Nơi đây, tôi đã vào đời bằng nghề dạy học ở trường Pháp – Việt năm 1944-1945, vừa dạy học vừa hoạt động Cách mạng, đã tham gia chỉ đạo cướp Chính quyền Phủ chiều 19-8-1945, đã trực tiếp tham gia xây dựng lực lượng võ trang, xây dựng trường cấp 1, cấp 2, cấp 3 như thế làm sao tôi quên được.

Hơn 30 năm dạy học, đậm nét nhất trong tôi vẫn là những năm đầu thành lập Trường Nho Quan B mà đã gần 40 năm trôi qua, tôi cũng không khỏi bồi hồi xao xuyến và xúc động nhớ lại những kỷ niệm xưa, những gương mặt thân thương của thày cô thế hệ này đã cùng hợp sức khắc phục mọi gian khổ của thời chiến, với tinh thần “Tất cả vì học sinh thân yêu” đưa Nhà trường tiến lên. Cho nên tôi cầu mong và cầu chúc Trường Nho Quan B ngày càng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc vào quỹ đạo nhà trường XHCN tiên tiến, trước mắt là đạt được danh hiệu trường chuẩn quốc gia sau đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, rồi Huân chương Độc lập và những năm sau là đơn vị Anh hùng.

Tôi tin tưởng các thế hệ thày trò nay và sau sẽ hoàn thành được trọng trách này, tin tưởng Trường Nho Quan B mãi mãi xứng đáng với niềm tin của mọi thế hệ thày trò, của mọi người.

One comment

  1. waermepumpentrockner test
    Magnificent goods from you, man. I have understand your stuff previous to and you are just too great.
    I really like what you have acquired here, really like what you are saying and the way in
    which you say it. You make it enjoyable and you still
    take care of to keep it smart. I can not wait to read much more from you.
    This is really a terrific site. waermepumpentrockner test

Gửi phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*